(Ngữ liệu ngoài sgk) Dấu chân người lính (trích)

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu.

11/11

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Dấu chân người lính” của Nguyễn Minh Châu.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Minh Châu: một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam thời kỳ chống Mỹ và thời kỳ đổi mới; giàu chất nhân văn, luôn đi tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người”.

- Giới thiệu tác phẩm Dấu chân người lính: tiểu thuyết xuất sắc về cuộc chiến đấu ác liệt ở Khe Sanh, đồng thời khắc họa chân dung tinh thần của người lính và những con người trên tuyến đường Trường Sơn.

- Dẫn dắt vào đoạn trích (chương 12, về nhân vật Nết) → khẳng định vấn đề nghị luận: Vẻ đẹp tâm hồn của những con người Trường Sơn hiện lên vừa đời thường, vừa cao cả.

* Thân bài:

1. Khái quát chung về đoạn trích

- Nội dung: tái hiện cuộc sống và tâm tư của Nết – nữ thanh niên xung phong, chị của Khuê – qua đó gợi mở bức tranh chung về thế hệ trẻ trên tuyến đường Trường Sơn.

- Nghệ thuật: giàu chất tự sự và trữ tình, kết hợp chi tiết hiện thực và cảm xúc nội tâm, giọng điệu vừa tha thiết, vừa dữ dội.

2. Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của con người trên tuyến đường Trường Sơn

a. Tình yêu quê hương, gia đình tha thiết

- Nết luôn mang trong mình “căn bệnh nhớ nhà”: nhớ bếp lửa, nhớ tiếng cá đớp mồi, nhớ dáng mẹ lam lũ, nhớ những trò đùa với em nhỏ…

- Nỗi nhớ gắn với những kỷ niệm nhỏ bé, bình dị mà sâu sắc → thể hiện tình cảm gia đình, gốc rễ tâm hồn của con người Việt Nam trong chiến tranh.

b. Sức mạnh tinh thần kiên cường, cứng cỏi trước mất mát

- Mẹ và em Nết chết vì bom Mỹ, đau đớn tột cùng nhưng cô “không rỏ một giọt nước mắt nào”.

- Thay vào đó, Nết dồn nén đau thương thành nghị lực: “Hãy nghiến răng lại mà làm việc, đừng quản ngày đêm… trả thù cho những người thân đã mất”.

- Phẩm chất chung của thế hệ Trường Sơn: dám hy sinh, giàu ý chí chiến đấu.

c. Tình đồng chí, đồng đội gắn bó, thấu hiểu

- Nết không khóc bởi còn việc chung: “anh chị em trong đội đang vội vàng chuẩn bị đón thương binh về… lẽ nào ngồi khóc?”.

- Ý thức cộng đồng đặt lên trên tình riêng → thể hiện sự cảm thông, sẻ chia, tinh thần trách nhiệm.

3. Đặc sắc nghệ thuật của đoạn trích

- Xây dựng tình huống truyện cảm động (Nết nhận tin dữ từ gia đình nhưng phải nén đau để tiếp tục công việc).

- Khắc họa nhân vật qua dòng hồi ức, chi tiết đời thường rất chân thực.

- Ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm (bếp lửa, mái tóc, tiếng cá đớp mồi, dáng mẹ…), vừa hiện thực vừa giàu chất thơ.

- Giọng điệu trần thuật hòa quyện giữa khách quan và trữ tình → khắc họa con người vừa anh hùng, vừa rất đỗi đời thường.

* Kết bài:

- Khẳng định: Đoạn trích Dấu chân người lính đã khắc họa thành công vẻ đẹp tâm hồn của thế hệ con người Trường Sơn: yêu quê hương, giàu tình cảm gia đình, kiên cường, giàu trách nhiệm với đồng đội và Tổ quốc.

- Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc của Nguyễn Minh Châu góp phần làm nổi bật giá trị nhân văn sâu sắc của tác phẩm.

- Ý nghĩa: Gợi nhắc thế hệ hôm nay trân trọng quá khứ, sống có trách nhiệm và biết gìn giữ, phát huy truyền thống dân tộc.

Bài văn tham khảo

Nguyễn Minh Châu là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Trước 1975, ông là nhà văn quân đội, gắn bó mật thiết với hiện thực kháng chiến chống Mỹ. Sau 1975, Nguyễn Minh Châu được coi là “người mở đường tinh anh” cho công cuộc đổi mới văn học với những tác phẩm giàu chất nhân văn, luôn đi tìm “hạt ngọc ẩn giấu” trong tâm hồn con người. Dấu chân người lính là một tiểu thuyết xuất sắc của ông, viết về cuộc chiến đấu ác liệt của quân và dân ta ở Khe Sanh, đồng thời khắc họa những gương mặt người lính và thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. Đoạn trích thuộc chương 12, xoay quanh nhân vật Nết – chị của Khuê, đã để lại ấn tượng sâu sắc về vẻ đẹp tâm hồn con người trong chiến tranh.

Qua đoạn trích, Nguyễn Minh Châu đã khắc họa thành công hình tượng Nết, một nữ thanh niên xung phong mang trong mình bao phẩm chất đáng quý. Trước hết, Nết hiện lên là một cô gái giàu tình yêu quê hương và gia đình. Suốt những năm tháng đi dọc Trường Sơn, Nết vẫn mang trong mình “căn bệnh nhớ nhà” không bao giờ chữa khỏi. Nỗi nhớ ấy gắn với những chi tiết đời thường giản dị: ngọn lửa bếp hồng, tiếng cá chép đớp mồi, dáng mẹ lam lũ với đôi chân lấm bùn, hay tiếng khóc của em nhỏ khi bị trêu đùa. Chính những hồi ức mộc mạc đã làm hiện lên gốc rễ tâm hồn Việt Nam: trong gian khổ vẫn không nguôi nỗi nhớ về mái ấm gia đình và quê hương.

Không chỉ giàu tình cảm, Nết còn mang trong mình nghị lực kiên cường và bản lĩnh mạnh mẽ. Khi nhận tin dữ về cái chết của mẹ và em vì bom Mỹ, cô đau đớn tột cùng nhưng nhất quyết “không rỏ một giọt nước mắt nào”. Nỗi đau ấy được cô dồn nén thành sức mạnh: “Hãy nghiến răng lại mà làm việc, đừng quản ngày đêm. Hãy nghiến răng lại mà chiến đấu để trả thù cho những người thân đã mất”. Trong Nết hội tụ phẩm chất của cả một thế hệ Trường Sơn: dám hy sinh, dám biến bi kịch riêng thành sức mạnh chung để tiếp tục chiến đấu.

Bên cạnh đó, nhân vật còn cho thấy tình đồng đội sâu nặng. Dù đau đớn, Nết vẫn tự nhủ không thể ngồi khóc khi “anh chị em trong đội đang vội vàng chuẩn bị đón thương binh về, mỗi người xé ra làm hai ba mà chưa làm hết việc”. Ý thức cộng đồng và tinh thần trách nhiệm đã giúp cô vượt qua nỗi đau riêng, gắn bó với tập thể. Đây chính là cội nguồn sức mạnh đưa cả dân tộc đi đến thắng lợi.

Thành công của đoạn trích còn nằm ở nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ giàu sức gợi. Nguyễn Minh Châu đã đưa nhân vật vào tình huống truyện đặc sắc: nỗi đau riêng đối lập với trách nhiệm chung. Ông sử dụng nhiều chi tiết hồi ức giản dị, chân thực mà thấm thía, tạo chiều sâu cho tâm trạng nhân vật. Ngôn ngữ trữ tình giàu hình ảnh – từ bếp lửa, mái tóc, tiếng cá đớp mồi đến dáng mẹ cặm cụi – vừa hiện thực vừa thấm đẫm chất thơ, làm nổi bật vẻ đẹp vừa bình dị, vừa anh hùng của con người Trường Sơn.

Tóm lại, đoạn trích Dấu chân người lính không chỉ phản ánh chân thực cuộc sống chiến đấu gian khổ trên tuyến đường Trường Sơn, mà quan trọng hơn còn tôn vinh vẻ đẹp tâm hồn của những con người trong chiến tranh. Nết là hiện thân của một thế hệ: yêu quê hương, giàu tình cảm, kiên cường, giàu trách nhiệm với đồng đội và Tổ quốc. Bằng nghệ thuật tự sự – trữ tình đặc sắc, Nguyễn Minh Châu đã đem đến một tác phẩm thấm đẫm giá trị nhân văn, để lại dư âm sâu xa trong lòng bạn đọc hôm nay.