(Ngữ liệu ngoài sgk) Chỗ nào cũng nắng

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư.

11/11

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Chỗ nào cũng nắng” của Nguyễn Ngọc Tư.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Ngọc Tư: cây bút gắn bó với miền đất Nam Bộ, giàu trăn trở về con người và quê hương.

- Giới thiệu đoạn trích Chỗ nào cũng nắng: câu chuyện xúc động về sự thay đổi trong cảm nhận của nhân vật “anh” đối với quê hương, gắn liền với hình ảnh người mẹ.

- Nêu luận điểm: Đoạn trích thể hiện tình yêu quê hương qua những câu chuyện giản dị, đồng thời bộc lộ nỗi đau mất mát, sự phai nhạt gắn kết khi mẹ qua đời.

* Thân bài:

1. Cảm nhận về quê hương khi mẹ còn sống

- Quê hương hiện lên qua những câu chuyện bình dị, tưởng chừng vụn vặt: cái góc bếp bị dột, con đường bê tông mới, người hàng xóm làm sui, cô dâu bỏ xuồng, bà thầy bói…

- Những mẩu chuyện ấy không hấp dẫn theo lối “giật gân” nhưng lại sống động, ấm áp, mang hơi thở của cuộc sống đời thường.

- Chính giọng kể của mẹ đã trở thành sợi dây vô hình buộc “anh” với quê hương, xoa dịu mệt mỏi nơi thành thị, như tấm liếp che chở, bóng mát nâng đỡ tâm hồn.

2. Cảm nhận về quê hương khi mẹ mất

- Sau khi mẹ qua đời, quê hương hiện ra khác hẳn: chao đảo, đầy bạo lực và bất an qua những câu chuyện chị Hai kể – chuyện nhậu nhẹt, tự vẫn, tai nạn, ẩu đả…

- Quê hương không còn là nơi bình yên che chở mà trở nên xa lạ, khắc nghiệt, khiến anh hụt hẫng và đau xót.

- Sự thay đổi ấy không chỉ bởi giọng kể của chị Hai, mà còn vì bóng dáng, tình yêu và sự kết nối của mẹ đã mất đi.

3. Ý nghĩa và giá trị tư tưởng của đoạn trích

- Quê hương trong văn bản không chỉ là mảnh đất chôn nhau cắt rốn mà còn gắn với ký ức, tình thương, đặc biệt là tình mẫu tử.

- Khi người thân mất đi, sự gắn kết ấy cũng bị lung lay, khiến con người cảm thấy lạc lõng.

- Nguyễn Ngọc Tư gửi gắm thông điệp nhân văn: hãy biết trân trọng những người thân yêu và giữ gìn ký ức về quê hương, bởi đó là điểm tựa tinh thần quý giá trong cuộc đời.

* Kết bài:

- Khẳng định lại giá trị của đoạn trích: tái hiện một cách chân thực, xúc động sự thay đổi trong cảm nhận về quê hương của nhân vật “anh”, từ đó làm nổi bật vai trò của tình mẹ.

- Mở rộng: Văn bản khơi gợi suy ngẫm cho mỗi người – quê hương không chỉ là mảnh đất, mà còn là tình thương, là ký ức gắn bó với gia đình. Khi còn có thể, hãy trân trọng và giữ gìn sợi dây thiêng liêng ấy.

Bài văn tham khảo

Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây bút tiêu biểu của văn học đương đại Việt Nam. Với lối viết dung dị, chân thực, chị thường hướng ngòi bút về miền đất Nam Bộ cùng những phận người nhỏ bé, nhiều trăn trở. Đoạn trích Chỗ nào cũng nắng là một minh chứng, khi tác giả tái hiện sự thay đổi trong cảm nhận của nhân vật “anh” về quê hương, gắn bó mật thiết với hình ảnh người mẹ – nguồn cội của yêu thương.

Khi mẹ còn sống, quê hương hiện lên qua những câu chuyện tưởng chừng như vụn vặt, không có gì đặc biệt: cái góc bếp bị dột, con đường bê tông mới, người hàng xóm vừa làm sui, hay cô dâu bỏ xuồng quay lại với người mình yêu… Những mẩu chuyện ấy, trong giọng kể của mẹ, lại trở nên sống động như một bộ phim thấm đẫm mùi rơm rạ, ấm áp và gần gũi. Chính nhờ những câu chuyện tưởng như “chắp vá” ấy mà anh cảm nhận quê hương thân thuộc, hiền hòa, gắn bó. Mẹ đã buộc anh vào quê nhà bằng một sợi dây vô hình nhưng bền chặt. Những lúc anh chao đảo, mệt mỏi với cuộc sống mưu sinh, giọng kể của mẹ như tấm liếp che nắng, làm dịu đi sự rạc rời, đem lại bóng mát bình yên cho tâm hồn.

Thế nhưng, khi mẹ mất, quê hương trong anh lại trở nên khác hẳn. Những câu chuyện từ chị Hai không còn mang màu sắc bình dị và dịu dàng, mà thấm đẫm bất an và chao đảo: những cuộc nhậu nhẹt vô nghĩa, những vụ ẩu đả vì đất đai, những cái chết thương tâm vì tự vẫn hay tai nạn. Quê hương vốn trong tưởng tượng của anh phải “dịu dàng hơn những tin tức thường ngày” nay lại khắc nghiệt, phũ phàng. Anh hụt hẫng, đau xót vì nhận ra rằng, điều giữ cho quê hương trở nên ấm áp và bình yên chính là giọng kể, là tình thương của mẹ. Khi mẹ không còn, những câu chuyện từng che chở tâm hồn anh cũng hóa thành đất cỏ, để lại khoảng trống lạnh lẽo trong lòng người ở lại.

Đoạn trích của Nguyễn Ngọc Tư gợi ra một thông điệp sâu sắc: quê hương không chỉ là mảnh đất chôn nhau cắt rốn, mà còn là nơi kết tinh trong ký ức, tình yêu và đặc biệt là tình mẹ. Khi người thân mất đi, sự gắn kết với quê hương cũng dễ bị lung lay, khiến con người rơi vào cảm giác lạc lõng, mất mát. Qua đó, nhà văn nhắn nhủ mỗi người hãy biết trân trọng những người thân yêu, bởi họ chính là cầu nối gắn ta với quê nhà, là điểm tựa tinh thần quý giá trên đường đời.

Có thể nói, Chỗ nào cũng nắng không chỉ khắc họa tình mẫu tử thiêng liêng mà còn khơi dậy trong lòng mỗi người những suy ngẫm về quê hương và ký ức. Quê hương không bao giờ là khái niệm trừu tượng, mà hiện diện cụ thể trong những câu chuyện, món ăn, nếp sống và hơn hết là tình thương của những người thân. Bởi vậy, khi còn có thể, hãy giữ gìn, trân trọng và nuôi dưỡng sợi dây ấy, để quê hương mãi là bóng mát dịu dàng trong tâm hồn ta.