(Ngữ liệu ngoài sgk) Tiếng của sum vầy (trích)

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Tiếng của sum vầy” của Vũ Thị Huyền Trang.

11/11

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Tiếng của sum vầy” của Vũ Thị Huyền Trang.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Tiếng của sum vầy” của Vũ Thị Huyền Trang.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu tác giả: Vũ Thị Huyền Trang – cây bút trẻ với những sáng tác giàu cảm xúc, phản ánh đời sống đương đại.

- Giới thiệu tác phẩm: Tiếng của sum vầy – truyện ngắn tiêu biểu viết về gia đình, hạnh phúc và nỗi khao khát đoàn tụ.

- Dẫn dắt vấn đề: Đoạn trích thể hiện rõ tâm trạng, tình cảm và khát vọng sum họp gia đình qua nhân vật ông Sáu và người vợ, đồng thời gửi gắm những suy tư về giá trị của mái ấm.

* Thân bài:

1. Khái quát nội dung đoạn trích

- Hoàn cảnh gia đình ông Sáu: vợ đi xuất khẩu lao động hơn 20 năm, con cái xa quê, ông ở nhà một mình, cô quạnh.

- Biến cố: vợ trở về đúng dịp Tết, mang đến hơi ấm, niềm vui cho căn nhà.

- Cao trào: cảnh ông Sáu thả chim cu gáy – biểu tượng cho khát vọng tự do, sum vầy, đoàn tụ.

2. Phân tích nhân vật và chi tiết nghệ thuật

a. Nhân vật ông Sáu

- Hình ảnh một người đàn ông cô đơn, lam lũ, từng sa vào rượu chè nhưng trong sâu thẳm vẫn khao khát hạnh phúc gia đình.

- Tâm trạng nôn nao nhớ lại kỷ niệm ngày cưới, xót xa vì nhiều cái Tết vắng thiếu sum họp.

- Khi vợ trở về: xúc động, ấm áp, trân trọng sự có mặt của bà – người mang lại sức sống cho mái ấm.

- Hành động thả chim: giàu tính biểu tượng, cho thấy ông đồng cảm với tự nhiên và gửi gắm khát vọng sum vầy, đoàn tụ.

b. Nhân vật người vợ

- Người phụ nữ đảm đang, tháo vát, “đi đến đâu là nhà cửa sạch sẽ, chăn màn thơm tho, bếp ấm lửa”.

- Ẩn chứa nỗi nhớ thương con, khao khát được sum họp cùng gia đình.

- Qua nhân vật, tác giả khắc họa hình ảnh người phụ nữ Việt giàu đức hy sinh, gắn bó bền chặt với mái ấm.

3. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật

- Nội dung:

+ Ca ngợi tình cảm gia đình thiêng liêng, bền chặt.

+ Phản ánh hiện thực xa cách trong nhiều gia đình hiện nay, khi người thân đi làm ăn xa.

+ Đề cao giá trị của sự đoàn tụ, sum vầy – hạnh phúc giản dị nhưng sâu xa.

- Nghệ thuật:

+ Ngôn ngữ giàu chất đời thường, gần gũi mà gợi cảm.

+ Hình ảnh biểu tượng: chim cu gáy, bếp lửa, bánh chưng, camera… tạo nhiều tầng ý nghĩa.

+ Lối kể chuyện xen kẽ hiện tại – hồi ức, kết hợp miêu tả tâm lí tinh tế.

* Kết bài:

- Khẳng định lại ý nghĩa của đoạn trích: Tiếng của sum vầy không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình mà còn là bản nhạc chung của biết bao mái ấm trong xã hội hiện đại.

- Liên hệ bản thân: Mỗi người cần trân trọng, giữ gìn mái ấm, bởi sum vầy gia đình là nguồn cội của hạnh phúc và sức mạnh tinh thần.

Bài văn tham khảo

Trong văn học Việt Nam đương đại, nhiều cây bút trẻ đã lựa chọn đề tài gia đình để gửi gắm những suy tư về cuộc sống. Một trong số đó là Vũ Thị Huyền Trang với truyện ngắn Tiếng của sum vầy. Tác phẩm không chỉ phản ánh những đổi thay của đời sống hôm nay mà còn khơi gợi trong lòng người đọc niềm trân trọng đối với mái ấm gia đình, đặc biệt qua hình ảnh nhân vật ông Sáu trong đoạn trích.

Gia cảnh ông Sáu thật nhiều nỗi niềm: vợ đi xuất khẩu lao động hơn hai mươi năm, hai con trưởng thành sống xa nhà, còn ông quanh quẩn với đàn chim cu gáy và những cuộc rượu. Ngôi nhà lạnh lẽo, thiếu hơi ấm sum họp khiến ông nhiều đêm nôn nao, thao thức nhớ lại kỷ niệm hạnh phúc thuở mới cưới. Tết đến, cảnh bếp nguội lạnh, bánh chưng mốc meo, con cái vắng nhà càng khắc sâu nỗi cô quạnh. Nhưng niềm vui bất ngờ đã đến khi người vợ trở về. Sự có mặt của bà như mang sức sống mới cho căn nhà: nhà cửa sạch sẽ, chăn màn thơm tho, bếp ấm, cơm canh nóng hổi. Không chỉ mang lại hơi ấm vật chất, bà còn khơi gợi tình cảm thiêng liêng, gắn kết các thành viên, nhất là khi nhắc đến món ăn, sở thích của con cái.

Qua nhân vật ông Sáu, tác giả đã khắc họa một người đàn ông từng bỏ bê mái ấm nhưng trong sâu thẳm luôn khao khát sự sum vầy. Niềm xúc động của ông khi nhìn vợ, nụ cười hạnh phúc khi chỉ tay vào camera như muốn báo với con rằng mẹ đã về, tất cả cho thấy sự trân trọng, biết ơn đối với mái ấm gia đình. Đặc biệt, chi tiết ông thả chim cu gáy cuối truyện vừa gợi tính nhân văn, vừa mang ý nghĩa biểu tượng: con người, cũng như loài chim, đều cần có đôi, có tổ ấm. Hành động ấy thể hiện sự đồng cảm với thiên nhiên và khát vọng sum họp, đoàn tụ của con người.

Tác phẩm còn để lại ấn tượng bởi hình ảnh người vợ. Bà hiện lên với vẻ đẹp của người phụ nữ Việt: chịu thương chịu khó, lo toan chu đáo, và quan trọng hơn là tình yêu thương gia đình sâu nặng. Dù đã xa quê hơn hai mươi năm, bà vẫn nhớ con từng chi tiết nhỏ: món ăn chúng thích, kỉ niệm tuổi thơ của chúng. Nỗi nhớ thương con của bà cũng chính là nỗi lòng của biết bao người mẹ Việt trong hoàn cảnh mưu sinh tha hương.

Đoạn trích Tiếng của sum vầy không chỉ thành công ở phương diện nội dung mà còn giàu giá trị nghệ thuật. Lối kể đan xen giữa hồi ức và hiện tại tạo chiều sâu cho câu chuyện. Ngôn ngữ giản dị, giàu chất đời thường nhưng gợi nhiều rung cảm. Đặc biệt, hệ thống hình ảnh mang tính biểu tượng như bếp lửa, bánh chưng, chim cu gáy, camera… đã khắc họa tinh tế khát vọng sum họp và giá trị thiêng liêng của mái ấm.

Tóm lại, Tiếng của sum vầy của Vũ Thị Huyền Trang không chỉ là câu chuyện riêng của một gia đình mà còn là bản nhạc chung của nhiều mái ấm Việt Nam hôm nay. Tác phẩm gợi nhắc mỗi người hãy biết trân trọng và gìn giữ hạnh phúc gia đình, bởi đó là cội nguồn của yêu thương, nơi ta luôn mong mỏi trở về sau bao vất vả, nhọc nhằn.