(Ngữ liệu ngoài sgk) Ngựa người và người ngựa (trích)

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Người ngựa và ngựa người” của Nguyễn Công Hoan.

11/11

Anh/ chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích văn bản ngữ liệu “Người ngựa và ngựa người” của Nguyễn Công Hoan.

0/3000 ký tự
Giải thích

Gợi ý:

- Đảm bảo yêu cầu về hình thức, dung lượng

+ Viết đúng hình thức bài văn đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết bài.

+ Đảm bảo dung lượng khoảng 600 chữ.

- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích văn bản ngữ liệu “Người ngựa và ngựa người” của Nguyễn Công Hoan.

- Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:

* Mở bài:

- Giới thiệu tác giả Nguyễn Công Hoan – cây bút hiện thực xuất sắc trong giai đoạn 1930 – 1945, được coi là “một trong ba cây đại thụ của văn học hiện thực phê phán” bên cạnh Vũ Trọng Phụng và Ngô Tất Tố.

- Giới thiệu tác phẩm “Ngựa người và người ngựa” – một truyện ngắn tiêu biểu, phơi bày hiện thực xã hội thực dân nửa phong kiến thối nát, đồng thời lên án sự chà đạp tàn nhẫn lên thân phận con người.

- Nêu vấn đề: Đoạn trích đã khắc họa thành công thân kiếp khốn cùng của những kiếp người lao động dưới đáy xã hội thông qua hình ảnh anh phu xe và cô gái điếm.

* Thân bài:

a. Hoàn cảnh đặc biệt và tình huống truyện

- Thời điểm diễn ra câu chuyện: đêm giao thừa, khoảnh khắc linh thiêng của năm mới.

- Trong khi người người sum họp đón Tết, hai con người khốn khổ vẫn lang thang mưu sinh ngoài đường phố:

+ Anh phu xe – đại diện cho tầng lớp lao động nghèo, sống lay lắt bằng sức lực cơ bắp.

+ Người đàn bà bề ngoài sang trọng nhưng thực chất chỉ là gái điếm – cũng phải lang bạt kiếm khách giữa đêm khuya.

- Sự gặp gỡ giữa họ tạo nên một tình huống đầy trớ trêu: khốn cùng gặp khốn cùng, càng bộc lộ rõ số phận bi đát của những kiếp người dưới đáy.

b. Thân phận và tâm trạng nhân vật

- Anh phu xe:

+ Ban đầu đầy hy vọng, mơ ước giản dị về “chín hào”, “bát phở tái”, “bánh ga tô cho con”… – thể hiện ước mơ nhỏ bé, chân chất.

+ Nhưng khi biết sự thật, anh rơi vào cảnh lao lực vô ích, làm thuê suốt mấy giờ mà không có công.

+ Hình ảnh “ngựa người” → bị biến thành công cụ, kéo còng lưng cho “người ngựa” là khách, biểu tượng cho sự tha hóa thân phận con người dưới áp bức.

- Người đàn bà (cô gái điếm):

+ Bên ngoài sang trọng nhưng thực chất nghèo khổ, bất lực.

+ Lời thoại đầy bối rối, bất lực: không tiền, không khách, đành nợ nần.

+ Cũng là một kiếp sống bị xã hội khinh miệt, chà đạp.

- Cả hai nhân vật đều thở dài, lê bước trong vô vọng → phản ánh số phận bế tắc của người lao động cùng khổ trong xã hội cũ.

c. Giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm

- Giá trị hiện thực:

+ Phơi bày cảnh sống cùng cực, khổ nhục của tầng lớp lao động nghèo dưới chế độ thực dân nửa phong kiến.

+ Tố cáo một xã hội bất công, nơi con người bị coi như súc vật, thân kiếp chẳng khác gì “ngựa”.

- Giá trị nhân đạo:

+ Thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những phận đời nghèo khổ.

+ Tiếng thở dài của nhân vật cũng là tiếng thở dài của nhà văn – cất lên nỗi đau thay cho hàng vạn con người bị bỏ rơi.

+ Đồng thời là tiếng nói đòi quyền sống, quyền làm người cho những thân phận dưới đáy xã hội.

d. Nghệ thuật

- Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện đặc sắc, giàu kịch tính.

- Nghệ thuật đối thoại chân thực, giàu sức gợi.

- Hình tượng “ngựa người – người ngựa” giàu tính biểu tượng, ám ảnh người đọc.

* Kết bài:

- Khẳng định giá trị của đoạn trích: “Ngựa người và người ngựa” đã khắc họa chân thực, ám ảnh số phận những kiếp người nghèo khổ, bị xã hội xô đẩy đến tận cùng của nỗi khốn cùng.

- Đóng góp lớn của Nguyễn Công Hoan: phơi bày hiện thực xã hội thối nát, đồng thời lay động lòng trắc ẩn và khát vọng đổi thay.

- Mở rộng: Tác phẩm nhắc nhở chúng ta hôm nay càng phải biết trân trọng những giá trị của cuộc sống tự do, no ấm, đồng thời luôn biết cảm thông, sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh trong xã hội.

Bài văn tham khảo

Trong nền văn học hiện thực phê phán 1930 – 1945, Nguyễn Công Hoan được xem là một trong những cây bút tiêu biểu, có khả năng phản ánh hiện thực đời sống với giọng văn vừa chua chát, vừa cảm thương. Truyện ngắn Ngựa người và người ngựa là một minh chứng điển hình, phơi bày số phận khốn cùng của những kiếp người lao động dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Đoạn trích trong tác phẩm đã khắc họa sâu sắc cảnh đời bất hạnh của anh phu xe và người đàn bà điếm trong đêm giao thừa, từ đó gióng lên tiếng nói tố cáo xã hội bất công và bày tỏ tấm lòng nhân đạo tha thiết.

Câu chuyện diễn ra vào thời khắc linh thiêng: đêm giao thừa. Khi mà hầu hết mọi người đều được sum vầy bên gia đình để chờ đón năm mới, thì anh phu xe và người đàn bà kia vẫn phải lê bước ngoài đường, kiếm sống lay lắt. Anh phu xe là hình ảnh điển hình cho người lao động nghèo, lam lũ, sống nhờ từng cuốc xe vất vả. Người đàn bà lúc đầu tỏ ra sang trọng, ăn mặc chải chuốt, nhưng thực chất chỉ là một gái điếm nghèo kiết xác, cũng bươn bả kiếm khách trong đêm. Sự gặp gỡ của hai con người ấy đã tạo nên một tình huống vừa trớ trêu, vừa đầy bi kịch: khốn cùng gặp khốn cùng, phơi bày tận cùng của sự bế tắc.

Hình ảnh anh phu xe hiện lên vừa đáng thương vừa đáng trân trọng. Anh chất phác, lam lũ, chỉ mong kiếm được “chín hào” để mua cho con chiếc bánh ga tô, cho vợ bát phở nóng trong ngày Tết. Những ước mơ nhỏ bé ấy thể hiện khát vọng giản dị, trong sáng của người lao động nghèo. Nhưng thực tế phũ phàng đã dập tắt hi vọng ấy. Người đàn bà không có tiền trả, bao công sức lao lực suốt mấy giờ của anh trở nên vô ích. Hình tượng “ngựa người” – con người bị biến thành con vật, phải còng lưng kéo khách – trở thành biểu tượng ám ảnh về thân phận bị chà đạp của những kiếp người dưới đáy.

Người đàn bà kia, tuy có lúc hiện lên với dáng vẻ chanh chua, bối rối, nhưng cũng là một số phận đáng thương. Bản thân chị ta cũng rơi vào cảnh túng quẫn, đi lang thang suốt đêm mà chẳng kiếm nổi một khách làng chơi. Lời thoại đầy bất lực “tôi biết làm thế nào” cho thấy sự bất đắc dĩ, cam chịu. Dù có vẻ là người lừa dối anh phu xe, nhưng sâu xa cũng chỉ vì chị quá nghèo, bị xã hội khinh miệt, xô đẩy. Cuối cùng, cả hai nhân vật đều thở dài, lê bước trong vô vọng, gợi nên một bức tranh tối tăm, bế tắc của cuộc đời.

Đoạn trích mang giá trị hiện thực sâu sắc khi phơi bày rõ cảnh đời khốn cùng của tầng lớp lao động nghèo trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Ở đó, con người không còn được đối xử như con người mà bị coi như công cụ, như súc vật. Đồng thời, tác phẩm cũng mang giá trị nhân đạo cảm động. Nguyễn Công Hoan đã cất lên tiếng nói thương cảm cho những phận đời cùng khổ, lên án xã hội bất công, đồng thời bộc lộ khát vọng đổi thay để con người được sống đúng với nhân phẩm.

Bằng bút pháp hiện thực sắc sảo, nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, ngôn ngữ đối thoại chân thực và đặc biệt là hình tượng mang tính biểu tượng “ngựa người – người ngựa”, Nguyễn Công Hoan đã để lại trong lòng người đọc một ám ảnh không thể nguôi.

Tóm lại, đoạn trích Ngựa người và người ngựa không chỉ khắc họa bi kịch thân phận những con người dưới đáy xã hội mà còn chứa đựng tiếng nói nhân đạo sâu sắc. Qua tác phẩm, ta càng hiểu rõ hơn sự tàn nhẫn của xã hội cũ, đồng thời thêm trân trọng giá trị của cuộc sống hôm nay – nơi con người được sống trong tự do, no ấm, và cũng được nhắc nhở phải biết cảm thông, sẻ chia với những mảnh đời bất hạnh.