Bộ 10 đề thi giữa kì 1 Ngữ văn 11 Cánh diều cấu trúc mới có đáp án - Đề 4

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật “em” ở đoạn trích trên.

7/7

Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật “em” ở đoạn trích trên.

0/3000 ký tự
Giải thích

a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận

-Học sinh biết tạo lập một bài văn nghị luận đảm bảo đủ cấu trúc 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài. 

b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận

Phân tích tâm trạng nhân vật.

c Triển khai vấn đề nghị luận

- Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng.

- HS có thể triển khai theo những cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

1. Mở bài

- Giới thiệu đoạn trích: “Tiễn dặn người yêu” là một truyện thơ đặc sắc của dân tộc Thái về chủ đề tình yêu và hôn nhân. Đoạn trích đã cho ở phần Đọc hiểu là một trong những đoạn trích tiêu biểu, nói về tâm trạng của nhân vật “em” khi bị cha mẹ ép buộc lấy người mình không yêu, và cô phải lìa xa mối tình của mình.

- Nêu nội dung khái quát cần phân tích, đánh giá: Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng đi vào phân tích tâm trạng của nhân vật “em” được thể hiện qua đoạn trích.

2. Thân bài

- Ở hai câu thơ đầu, cô gái tự trách mình đã “tính không đủ”, “lo chẳng tròn”, để đến nỗi giờ tình yêu tan vỡ, không có cách gì cứu vãn. Hai câu thơ cũng thể hiện sự bất lực của cô gái. Trong một xã hội mà tập tục hôn nhân sắp đặt được chấp nhận, thì cô gái dù có cố gắng thế nào cũng không thể tính, không thể lo để mọi chuyện theo như ý muốn của mình được.

- Những câu thơ tiếp theo diễn tả tâm trạng đau đớn của cô gái.

+ Nỗi đau là quá lớn. Cô tâm niệm rằng, nếu không đến được với người mình yêu thì cuộc sống sẽ thành vô nghĩa, “sống coi như chết”.

+ Hàng loạt các hình ảnh so sánh ví von được sử dụng để cụ thể hóa nỗi đau ấy: “như ăn lá ngón lìa đời”, “như nậy đá to đá sập”, “vần đá tảng đè tay”. Việc cô bị cha mẹ ép gả, việc cô không đến được với người mình yêu cũng giáng xuống đầu cô như những tảng đá, đè nát cuộc đời cô, như lá ngón, giết chết cuộc đời cô.

+ Nỗi đau đớn tiếp tục được bộc lộ ở những câu tiếp: Nỗi đau ấy không phải là nỗi đau bề ngoài, nỗi đau thể xác, mà nó thương tổn bên trọng, ở trong tận đáy tâm hồn: “đau tận ruột”, “buốt tận tim”.

+ Nỗi đau ấy lại nhân lên gấp bội khi không có người sẻ chia, thấu hiểu: “không người đoái hoài”, “thăm hỏi nào ai”. Hình ảnh cô gái hiện lên thật đơn độc, tội nghiệp: “Xót xa em trùm chăm thầm khóc”.

+ Nỗi đau ấy được hữu hình hóa ở hình ảnh những dòng nước mắt. Đó là một nỗi đau bật ra mạnh mẽ, không kìm nén được, dù cúi xuống hay ngẩng lên thì nỗi đau cũng khiến cho nước mắt tuôn rơi. Biện pháp thậm xưng ở hai câu cuối đẩy nỗi đau lên đến đỉnh điểm: Những dòng nước mắt chảy xuống đủ để “rửa rau muôn rổ”, “rửa rau muôn vườn”. Cô gái như bị nhấn chìm trong nỗi đau khổ của chính mình.

3. Kết bài

- Khẳng định khái quát những nét đặc sắc về chủ đề và nghệ thuật của đoạn trích: Với sự kết hợp của các yếu tố nghệ thuật đặc sắc, đoạn trích đã cho ta thấy được những diễn biến tâm trạng của nhân vật “em” khi tình yêu tan vỡ.

- Nêu ý nghĩa của đoạn trích đối với bản thân và người đọc: Đoạn trích khiến ta cảm thấy xót xa, thương cảm đối với thân phận của người phụ nữ xưa, khi họ là nạn nhân của hủ tục cưới xin ép buộc. Nó cũng giúp ta thêm trân quý quyền được tự do yêu đương trong xã hội hiện nay.

d. Chính tả, ngữ pháp

Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt

e. Sáng tạo

- Bài viết có luận điểm rõ ràng, lập luận thuyết phục, diễn đạt trong sáng, bài viết thể hiện được sự sáng tạo, độc đáo riêng.           

-Chữ viết sạch đẹp, rõ ràng, văn phong lưu loát; không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu.