500+ câu trắc nghiệm tổng hợp Luật sở hữu trí tuệ có đáp án - Phần 3

Anh A làm ở bộ phận nghiên cứu và phát triển của một công ty cổ phần D chuyên về mỹ phẩm cho phái nữ. Nhiều năm nay, anh vẫn cố gắng để nghiên cứu tìm ra phương pháp giúp cung cấp collagen ch

8/10

Anh A làm ở bộ phận nghiên cứu và phát triển của một công ty cổ phần D chuyên về mỹ phẩm cho phái nữ. Nhiều năm nay, anh vẫn cố gắng để nghiên cứu tìm ra phương pháp giúp cung cấp collagen cho cơ thể sao cho hiệu quả nhất, dễ hấp thụ nhất. Sau nhiều năm nghiên cứu, anh nhận thấy rằng, chỉ chiết xuất các collagen từ tự nhiên rồi đưa trực tiếp vào cơ thể là chưa đủ, bởi collagen là một phần tử lớn, cơ thể rất khó mà hấp thu, từ đó việc cung cấp collagen không hiệu quả. Anh nảy ra ý tưởng gắn collagen vào các vi khuẩn lợi cho sức khoẻ có ở trong sữa chua, làm ra loại sữa chua collagen theo công nghệ đặc biệt của anh. Anh nhờ một người bạn là B đồng nghiệp thiết kế quy trình thử nghiệm để tạo ra một mẫu thử nghiệm. Thử nghiệm thành công, A muốn đăng ký bảo hộ cho sáng chế sữa chua collagen của mình nhưng B không đồng ý. B cho rằng anh cũng có công đóng góp để tạo nên sản phẩm này. Hai bên đã xảy ra tranh chấp. Phát biểu nào sau đây đúng?

A và B có thể coi là đồng sáng chế

Chỉ A là chủ sở hữu sáng chế về sữa chua collagen

A là không chủ sở hữu sáng chế bởi sữa chua collagen không được đối tượng được bảo hộ sáng chế

A không là chủ sở hữu sáng chế, sáng chế này thuộc về công ty cổ phần nơi làm việc của A.

Giải thích

Chọn đáp án D

Giải thích: Thứ nhất, B chỉ là người nghe A trình bày về ý tưởng sữa chua collagen và giúp A tạo nên mẫu thử => A,B không là đồng sáng chế. Theo Khoản 1, Điều 122, Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019

Thứ hai, Sữa chua collagen là một sản phẩm, giúp cung cấp collagen và giúp cơ thể tiếp nhận hiệu quả collagen, áp dụng công nghệ đặc biệt của A và sản phẩm này hoàn toàn có thể sản xuất công nghiệp được. Nên đây được coi là sáng chế. Căn cứ vào Khoản 1, Điều 58, Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2019

Thứ ba, Căn cứ theo khoản 1, điều 122, LSHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2019 thì A là tác giả sáng chế vì A là người trực tiếp tạo ra đối tượng bảo hộ là sữa chua collagen => A có quyền nhân thân đối với sáng chế theo khoản 2 và có quyền tài sản theo khoản 3 Điều 122. Công ty D đã trả thù lao, tạo điều kiện, đầu tư cho A để A làm công việc nghiên cứu tạo các sản phẩm mới cho công ty => Công ty D là chủ sở hữu sáng chế và có quyền tài sản đối với sáng chế sữa chua collagen.