(4,0 điểm) Viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích cấu tứ và hình ảnh của tác phẩm về văn bản thơ được nêu ra ở phần đọc hiểu.
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận
- Học sinh biết tạo lập một bài văn nghị luận đảm bảo đủ cấu trúc 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích đánh giá nội dung, nghệ thuật.
c. Triển khai vấn đề nghị luận
- Chia vấn đề nghị luận thành các luận điểm, luận cứ phù hợp, có sức thuyết phục; sử dụng tốt các thao tác lập luận; biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và đưa dẫn chứng.
- HS có thể triển khai theo những cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau:
* Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu khái quát quan điểm của cá nhân về vấn đề.
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Giải thích vấn đề đề nghị luận
- Thể hiện quan điểm của người viết, có thể theo một số gợi ý sau:
+ Cấu tứ bài thơ: nỗi nhớ nhung xa cách người yêu, khoảng cách làm nhân vật “tôi” xác định rõ hơn về tình cảm của mình; từ hoàn cảnh cô đơn của bản thân, nhân vật trữ tình nhìn ra sự cô đơn của vũ trụ (trăng, mặt trời), sức mạnh vô hình của tình yêu và nỗi nhớ; mong đợi được trùng phùng với “em”.
+ Hình ảnh tiêu biểu:
• Mặt trăng, mặt trời biểu tượng cho ánh sáng, là ông hoàng, bà hoàng của bầu trời nhưng luôn cô đơn, sự thật ấy vốn từ ngàn đời nhưng đến khi “anh xa em” thì anh mới nhận ra vũ trụ này cũng tràn ngập sự cô đơn; tình cảm của chủ thể trữ tình đã chi phối ánh nhìn khiến chủ thể trữ tình vỡ lẽ ra sự thật hiển nhiên ấy; mặt trời là dương, mặt trăng là âm cũng có thể hiểu tượng trưng cho sự xa cách của anh và em.
• Biển và cánh buồm: biển tự nhận mình “dài rộng” mênh mông, đầy sức mạnh nhưng khi xa cánh buồm lại thấy cô đơn, biển nhận ra mình không mạnh mẽ như mình hằng tưởng cũng giống như anh nhận ra sự quan trọng của em đối với đời mình.
• Gió – đá núi: gió vô hình tuy êm dịu miên man còn đá núi sừng sững nhưng gió khiến cho đá núi phải khuất phục, thay đổi (phải mòn); còn nỗi nhớ khôn nguôi về em khiến anh luôn đau đáu, khắc khoải, mong ngóng (màu tím tượng trưng cho sự nhớ nhung, chung thủy trong tình yêu). Điệp từ “không phải là” càng nhấn mạnh về sức mạnh của gió với núi, của em với anh.
• Sóng biển: trước biển khơi bao la chủ thể trữ tình đối thoại với lòng mình để hiểu hơn về tình cảm của bản thân, biển rộng lớn – cá nhân bé nhỏ càng tô đậm sự lẻ loi, đơn chiếc, khao khát tìm về hơi ấm của bàn tay, nhân vật trữ tình mong con sóng sẽ mang người yêu về với mình. Sóng biển còn tượng trưng cho sóng lòng, sóng tình (nghiêng ngả vì em) (Sao có tiếng sóng ở trong lòng- Thâm Tâm) (Anh xin làm sóng biếc/ Hôn mãi cát vàng em – Xuân Diệu) (Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được- Xuân Quỳnh).
• Cấu trúc song đôi giữa dương – âm như đại diện cho anh – em. (Dương: mặt trời, biển, đá núi, anh; Âm: mặt trăng, cánh buồm, gió, em).
d. Chính tả, ngữ pháp
Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt
e. Sáng tạo
- Bài viết có luận điểm rõ ràng, lập luận thuyết phục, diễn đạt trong sáng, bài viết thể hiện được sự sáng tạo, độc đáo riêng.
- Chữ viết sạch đẹp, rõ ràng, văn phong lưu loát; không mắc lỗi chính tả, lỗi dùng từ, đặt câu.