2.1. Giáo viên tổng phụ trách khối 9 đã thống kê được số học sinh tham gia và đạt kết quả trong các cuộc thi thể thao và thu được kết quả như sau: Bộ môn Cầu lông Bóng rổ Chạy bền Nhảy xa Bón
2.1. a) Số học sinh nam tham gia cuộc thi là: \(12 + 8 + 10 + 9 + 11 = 50\) (học sinh)
Số học sinh nữ tham gia cuộc thi là: \(9 + 10 + 7 + 8 + 6 = 40\) (học sinh)
b) Xác suất để học sinh nam đạt giải ở môn chạy bền là: \(\frac{4}{{50}} = \frac{2}{{25}}\).
c) Tổng số học sinh tham gia thi là: \(50 + 40 = 90\) (học sinh)
Số học sinh đạt giải ở môn cầu lông là: \(5 + 4 = 9\) (học sinh)
Do đó, xác suất để chọn được học sinh đạt giải môn cầu lông là: \(\frac{9}{{90}} = \frac{1}{{10}}\).
2.2. a) Kí hiệu \(\overline {xy} \) là số mà khách hàng lập được, trong đó \(y\) là số ghi trên lá thăm rút được lần thứ nhất (số hàng đơn vị), \(x\) là số ghi trên lá thăm rút được lần thứ hai (số hàng chục).
Không gian mẫu của phép thử là:
\(\Omega = \left\{ {11;\,\,12;\,\,13;\,\,14;\,\,15;\,\,16;\,\,17;\,\,18;\,\,19;\,\,...;\,\,91;\,\,92;\,\,93;\,\,94;\,\,95;\,\,96;\,\,97;\,\,98;\,\,99} \right\}.\)
Số phần tử của không gian mẫu là 81.
b) Vì 9 lá thăm giống nhau về kích thước, hình dạng nên 81 kết quả trên là đồng khả năng.
Có 4 kết quả thuận lợi cho biến cố đã cho là: \(11;\,\,13;\,\,17;\,\,19.\)
Vậy xác suất của biến cố đã cho là: \(\frac{4}{{81}}\).